Image default
Kiến thức Kỹ Thuật Tin nổi bật

Kinh nghiệm Trade coin: Bối cảnh, đầu vào, và kỹ thuật để định giá tiền kĩ thuật số

Bài này sẽ cung cấp bối cảnh cho mô hình định giá tiền kĩ thuật số, gợi ý cho đầu vào, và giới thiệu các kỹ thuật mô hình hóa.

Tính thực tế của mô hình định giá   

  • Các mô hình là một sự trừu tượng, có một số giả định nhằm giảm tính phức tạp mà lại không ảnh hưởng tới mức độ chính xác.
  • Các mô hình định giá giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của động lực giá trị đối với tiền kĩ thuật số. Ví dụ, một mô hình tiền kĩ thuật số tốt có thể chỉ ra tỷ lệ chấp nhận quan trọng như thế nào đối với giá trị một đồng tiền kĩ thuật số.
  • Điều quan trọng là không làm sai lệch độ chính xác của mô hình. Trong khi các mô hình định giá thường trả về một giá trị duy nhất, cần lưu ý rằng dự báo lý tưởng có tính xác suất và nên phản ảnh sự không chắc chắn bằng cách đưa ra các kết quả và khả năng liên quan.
  • Kết quả của bất kỳ mô hình nào cũng quan trọng như đầu vào. Trong trường hợp tiền kĩ thuật số, một số mô hình yêu cầu đầu vào rất quan trọng nhưng khó định lượng, ví dụ rủi ro pháp luật.

Bối cảnh cho định giá tiền kĩ thuật số

Sự chênh lệch về giá cả cho các mô hình định giá chứng khoán thường có thể khác nhau đến 25% đối với dự báo trong khoảng thời gian 12-18 tháng. Do những sự không chắc chắn đáng kể xung quanh tiền kĩ thuật số (quy định, tỷ lệ chấp nhận, vi phạm sàn giao dịch, v.v.), chúng ta nên biết rằng các mô hình định giá có thể rất khác nhau trong việc dự báo do sự nhạy cảm với các giả định cho những sự không chắc chắn này. Cũng bởi một số đồng tiền cạnh tranh trực tiếp với các trường hợp sử dụng cụ thể, phạm vi các kết quả dự báo có thể khá rộng và một số đồng tiền có thể được dự báo trong một kịch bản có khả năng nhất để có giá trị không.

Cryptocurrency quirks (rãnh tiền kĩ thuật số)

Tiền kĩ thuật số về cơ bản khác với các loại tài sản khác và có những đặc điểm thách thức mô hình hóa. Lý tưởng hơn, những quirks (rãnh) này sẽ được kết hợp như là đầu vào.

Hard forks thay đổi giá trị dự kiến ​​của việc hold tiền kĩ thuật số. Tiền kĩ thuật số có thể hard fork và chủ sở hữu ban đầu thường nhận được tiền kĩ thuật số mới được tạo ra (một ví dụ nổi tiếng là Bitcoin Cash chính là được hard fork từ Bitcoin). Các fork này không phải là tổng số bằng không như khai tách doanh nghiệp và có thể tạo ra hoặc phá hủy giá trị  của holders đồng tiền gốc.Ví dụ, trong trường hợp Bitcoin Cash hard fork, nó tạo ra giá trị bổ sung đáng kể cho chủ sở hữu Bitcoin.

  • Đặc tính phi tuyến tính phi tuyến được điều khiển bởi các luồng phản hồi, đặc biệt liên quan đến chuyển động giá cả. Đối với loại tiền liên quan đến tích trữ giá trị và phương tiện trao đổi, biến động giá lớn có thể thúc đẩy vòng phản hồi mà tiếp tục di chuyển giá. Ví dụ, nếu một đồng tiền kĩ thuật số tích trữ giá trị giảm 50%, có thể holders sẽ chuyển tiền đến một đồng tiền kĩ thuật số khác và đồng tiền kĩ thuật số kia sẽ mất đi sự chấp nhận và giá trị của nó sẽ giảm hơn nữa, thậm chí bằng không. Tương tự, nếu giá trị tích trữ tăng nhanh, nó có thể khiến các nhà đầu cơ tham gia vào thị trường nhằm tham gia vào việc tăng giá và qua đó đẩy giá lên cao hơn. Các vòng phản hồi khác như thế này tồn tại trong hệ sinh thái giữa các đồng tiền cạnh tranh, các đồng tiền niêm yết trên một sàn giao dịch mới, và sàn giao dịch với tỷ lệ holding lớn đối với một đồng tiền bị hack (như Nano gần đây bị mất trên Bittgrail), vv. Mô hình hóa tiền kĩ thuật số hiệu quả sẽ đòi hỏi phải thiếp lập và kết hợp một số các vòng phản hồi quan trọng này. Một vòng phản hồi thông thường là một hiệu ứng mạng lưới, làm tăng sức mạnh và giá trị của đồng tiền khi số lượng người tham gia tăng lên.

Môi trường pháp lý không chắc chắn. Có những loại tiền kĩ thuật số khác nhau, và người ta không rõ các nhà quản lý nhìn nhận những đồng tiền này như thế nào. Cũng không rõ liệu và làm thế nào các nhà quản lý sẽ hạn chế sự tham gia tiền kĩ thuật số bằng cách áp đặt những hạn chế chặt chẽ hơn đối với các sàn giao dịch. Các nhà quản lý cũng có thể hạn chế đáng kể các ICOs, việc này làm giảm sự cạnh tranh từ đồng tiền mới nhưng cũng gây khó khăn cho việc xây dựng trên đồng tiền nền tảng đã thiết lập, như Ethereum, vốn phát triển một phần bởi vì chúng được sử dụng để tạo ra đồng tiền mới và tiến hành ICOs.

Đối với loại tiền kĩ thuật số nhất định, không rõ bao nhiêu phần trăm đang được giao dịch và bao nhiêu phần trăm được nắm giữ như là một khoản đầu tư dài hạn, trong số những đồng tiền đang được giao dịch, bao nhiêu phần trăm đang được trao đổi bên cạnh việc di chuyển giữa các sàn hoặc các ví.

Sự khác biệt giữa các loại tiền

Các mô hình sẽ phải cụ thể cho từng loại tiền bởi vì cơ cấu khuyến khích và quản trị khác nhau đáng kể giữa các đồng tiền, bên cạnh những sự khác biệt quan trọng khác. Giống như quirks của tiền kĩ thuật số, các sự khác biệt cụ thể cũng nên được chú ý từ khâu đầu vào.

  • Xác minh giao dịch và tạo tiền: Các đồng tiền xác định các cơ chế khuyến khích khác nhau để xác minh các giao dịch và tạo ra đồng tiền mới (proof-of-work, proof-of-stake, v.v ..). Những lựa chọn thiết kế này có thể ảnh hưởng đến lượng tiền đang được giao dịch thông qua việc staking (đặt cọc) và sự quan tâm của các thợ mỏ trong việc tham gia.
  • Trường hợp sử dụng: Tiền được xây dựng cho các trường hợp sử dụng khác nhau và giá trị của chúng sẽ phản ánh những khác biệt này. Tiền được xây dựng để phân phối số lượng lớn có bộ trữ tập tin có thể có các động lực giá khác tiền được xây dựng cho một sàn giao dịch phi tập trung.
  • Tiến trình phát triển: Một số loại tiền kĩ thuật số có thể chẳng có gì hơn ngoài một white paper trong khi những loại khác tồn tại hàng năm và có hàng triệu đô la khối lượng giao dịch hàng ngày. Ở giai đoạn sớm nhất, có thể rất khó khăn và thậm chí vô ích khi dự đoán những thứ như khối lượng giao dịch và lợi nhuận cho người đào, hai yếu tố có thể quan trọng đối với giá trị tiền kĩ thuật số. Đối với các đồng tiền đã thiết lập, có tiền lệ tốt hơn cho việc tạo ra các giả định mô hình.
  • Mạng lưới trao đổi phân tán: Một số đồng tiền được niêm yết trên các sàn giao dịch lớn và có khối lượng giao dịch hàng ngày cao trong khi số khác  chỉ được niêm yết trên các sàn giao dịch nhỏ hoặc thậm chí là một sàn giao dịch, điều này làm cho việc thiết lập giao dịch và giá cả gặp khó khăn. Đối với một đồng tiền nhỏ hơn, được niêm yết trên một sàn giao dịch lớn có thể ảnh hưởng lớn đến giá và khối lượng giao dịch hàng ngày. Thêm một đồng tiền mới lên sàn Coinbase sẽ là một ví dụ về trường hợp một đồng tiền mở đón khoản vốn mà không thể tiếp cận đồng tiền này trước đó. Việc niêm yết đối với sàn giao dịch lớn có thể làm tăng giá (nếu nhiều người quan tâm đến việc mua nó trước đó) hoặc giảm giá (nếu người bán chờ đợi cho đến khi đồng tiền được trao đổi với khối lượng lớn để “dump” (xả) svị trí của họ).

Kĩ thuật mô hình hóa bổ sung  

  • Phân tích tổng hợp các phần (Sum-of-the-parts analysis): Phân tích này bao gồm chia một tài sản thành từng phần, tìm giá trị của mỗi phần, sau đó tính gộp các giá trị của các phần lại với nhau để đạt được giá trị cuối cùng. Kỹ thuật này có thể hữu ích cho đồng tiền kĩ thuật số có nhiều mục đích, như tích trữ giá trị, trao đổi, và một phương tiện để chuyển các khoản thanh toán chuyển tiền.
  • Mô phỏng Monte Carlo: Theo mô tả của Investopedia, mô phỏng Monte Carlo được sử dụng để xác định mô hình xác suất của các kết quả khác nhau trong một quy trình khó dự đoán được do sự can thiệp của các biến ngẫu nhiên. Đó là một kỹ thuật được sử dụng để hiểu tác động của rủi ro và sự không chắc chắn trong các mô hình dự báo. “Kỹ thuật này còn được gọi là mô phỏng xác suất. Mô phỏng Monte Carlo có thể hữu ích trong việc đưa ra các kết quả cho đồng tiền có kết quả dự báo cực đoan (hoặc là rất có giá trị hoặc vô giá trị) do sự nhạy cảm với đầu vào then chốt. Đối với các kịch bản này, sự phân bổ phản ánh tốt hơn kết quả dự báo hơn là một mục tiêu giá.
  • Các đường cong chi phí sản xuất: Đối với đồng tiền sử dụng một số dạng khai thác thông qua tính toán liên quan đến proof-of-work, ước tính các đường cong chi phí của người khai thác mỏ có thể hữu ích. Mô hình chi phí biên của sản xuất là một kỹ thuật định giá thông thường được sử dụng để đánh giá hàng hóa. Trong bối cảnh tiền kĩ thuật số, điều này có thể hữu ích trong việc dự báo mức độ lợi nhuận của các thợ mỏ sẽ đạt được khi sử dụng sức mạnh tính toán để khai thác một đồng tiền kĩ thuật số và qua đó thấy được sức mạnh tính toán trên mạng lưới tại ở các mức giá (điều này quan trọng đối với một số đồng tiền).
  • Sức mua chẵn lẻ(PPP): Theo giả thuyết, một khi tiền kĩ thuật số là phương tiện trao đổi hiệu quả và đạt đến một ngưỡng khối lượng giao dịch hàng hoá và dịch vụ nhất định, khái niệm về PPP có thể được sử dụng để đánh giá tiền kĩ thuật số bằng cách ấn định tỷ giá của nó so với các đồng tiền định danh khác. PPP đã được sử dụng để xác định các đồng tiền quốc gia định giá quá cao và bị đánh giá thấp.

Kết luận

Tiền kĩ thuật số về cơ bản khác với các loại tài sản khác, và để đánh giá chúng thì các kỹ thuật định giá mới phải được phát triển. Khi các tiền kĩ thuật số thay đổi và tiến triển, mô hình định giá phải được cập nhật để phản ánh những thay đổi cơ bản trong cấu trúc khuyến khích và quản trị. Trong bài tiếp theo, chúng tôi sẽ giới thiệu các cách tiếp cận mới.

Nguồn : tapchibitcoin

Related posts

Tương lai nào cho các miner Bitcoin trong năm 2019 giữa bối cảnh giá giảm?

Mr Authors

Nebulas là gì? Tìm hiểu về đồng tiền điện tử Nebulas (NAS)

Mr Authors

Bitcoin quay trở lại mốc 12.000 USD, đồng ripple tăng giá gần 70%

Mr Authors

Để lại một bình luận